Những Bất Cập Của Dụng Thần: Về Lý Luận Ứng Dụng

Lý luận ứng dụng là lý thuyết cụ thể hướng dẫn cách luận đoán một lá số. Khi lý luận cơ bản có khiếm khuyết thì tất yếu dẫn tới sự sai lầm, thiếu hụt của lý luận ứng dụng.

Khi quá coi trọng Dụng thần, Kỵ thần thì sẽ lúng túng và dễ sai lầm khi gặp các trường hợp khó phân biệt là Dụng hay Kỵ thần cho nên kết quả dự doán sai là khó tránh. Ví như các trường hợp:

– Gặp lá số rất khó xác định Dụng thần vì can ngày vốn đã cân bằng. Như thế là Dụng hay Kỵ thần chỉ khác biệt nhau rất ít.

– Rất khó phân định khi có 2 lực lượng Dụng và Kỵ thần ngang nhau mà khắc nhau. Ví như gặp đại vận Giáp Thân, trong đó Giáp là Dụng còn Thân là Kỵ thần.

Đây có thể là nguyên nhân dẫn tới quan niệm chia đại vận làm hai đoạn: 5 năm đầu do can quản, 5 năm sau do chi quản. Thầy Thiệu đã viết: “Về đại vận 10 năm, thiên can quản 5 năm đầu, địa chi quản 5 năm sau[1].

Việc làm này là rất sai vì can và chi của đại vận đều có khả năng hợp, xung hay hình hại với can hay chi của tất cả các lưu niên trong đại vận đó. Nghĩa là can và chi đều ảnh hưởng như nhau đến cả 10 năm trong đại vận.

– Đã xảy ra cuộc tranh luận: can quan trọng hơn chi hay chi quan trọng hơn can. Nhiều người, trong đó có thầy Thiệu cho rằng chi quan trọng hơn can nên đã viết: “Tôi trong quá trình dự đoán lấy địa chi làm thái tuế. Thái tuế là vua, là không thể xúc phạm[2].

Nếu vậy thì khác chi các thầy đã cho Âm quan trọng hơn Dương, đêm cần thiết hơn ngày, đàn bà quan trọng hơn đàn ông… Nhiều thầy và rất nhiều người mắc sai lầm tai hại khi lấy chi của năm sinh là cơ sở để so sánh rồi chọn vợ/chồng hay chọn năm sinh con.

Ví như người sinh năm Tý thì không nên lấy người sinh năm Ngọ và không nên sinh con vào năm Ngọ, vì Tý xung Ngọ… Vậy các thầy quên rằng: nếu không có Dương thì cũng chẳng có Âm.

Trong một lá số Tứ trụ có 8 chữ thì một nửa là can và một nửa là chi. Các can còn là các Thần – là biểu tượng, là sao để dự đoán các nội dung trong lá số.

Các can và chi luôn có liên hệ mật thiết với nhau theo cơ chế Sinh, Khắc, Hợp, Xung và phối hợp với nhau để để tạo ra các cấu trúc của lá số. Rõ ràng can và chi đều có vai trò quan trọng như nhau, không bên nào hơn bên nào.

– Khi cho Dụng thần là tiêu chí duy nhất để luận đoán sẽ dẫn tới coi thường các yếu tố khác mà bản thân nó có khả năng tạo ra thông tin. Vì vậy sẽ không có cơ sở và cũng không thể giải thích được hiện tượng cùng một thời gian mà một người rất thành đạt mặt này lại thất bại về mặt khác.

Ví như một học sinh học rất giỏi nhưng cùng năm đó mẹ của em lại ốm nặng rồi chết! Vậy Ấn là Dụng hay Kỵ thần? Một nữ Giám đốc doanh nghiệp nhưng trong vận đó lại ly hôn chồng thì Quan là Dụng hay là Kỵ thần bởi Quan vừa là biểu tượng của chức quyền, vừa là sao chồng?

Hơn nữa nếu Quan là can trụ tháng thì có xét nó với vai trò là cung của anh chị em không? Một người nổi tiếng về sự nghiệp nhưng sức khỏe lại kém thì cái gì là Dụng thần?

Các trường hợp có thông tin trái tính, sao và cung khác nhau như vậy có rất nhiều trong các lá số hiện nay nhưng không có sách Tứ Trụ nào bàn về vấn đề này là minh chứng rõ nhất về sự hạn chế của Dụng thần!

Quá coi trọng can ngày là nguyên nhân dãn tới bất cập

Can ngày là trung tâm của lá số với ý nghĩa nó là căn cứ để các định 10 Thần và một số Thần, Sát, Nhưng Dụng thần cân bằng đã đưa can ngày lên vị trí quyết định đến cát hung thành bại của lá số. Làm vậy dễ sai lầm khi dự đoán các vấn đề không liên quan hoặc liên quan rất ít tới can ngày. Đó là các trường hợp:

– Sức khỏe của bản mệnh phụ thuộc vào trạng thái của Ngũ hành trong lá số. Ngũ hành này tạo nên bởi can chi của 4 trụ, can chi của đại vận và can chi của lưu niên. Nghĩa là có 12 can và chi hợp thành, Can ngày chỉ là một thành phần trong số đó thì vai trò của nó đối vói sức khỏe là rất thấp.

– Ấn là sao của mẹ, Thiên Tài là sao của bố. Khi dự đoán về sức khỏe, sự nghiệp và tình cảm của bố mẹ với nhau cũng không cần đến can ngày.

– Quan là sao chồng đối với mệnh nữ, Chính Tài là sao vợ đối với mệnh nam. Khi tìm các thông tin về sức khỏe, sự nghiệp của chồng hay vợ cũng không liên quan gì đến can ngày. Vợ chồng hòa thuận hay bất hòa nhiều trường hợp không liên quan tới can ngày.

– Thực, Thương và Quan, Sát là sao con cái, Khi dự đoán về sự nghiệp, sức khỏe của các con cũng không cần tới can ngày.

Coi chi tháng là trung tâm của lá số cũng là nhận định dẫn tới sai lầm

Cả hai trường phái Dụng thần đều cho rằng chi tháng là cực kỳ quan trọng, Thầy Thiệu viết: “Chi tháng là lệnh tháng. Lệnh tháng là tiêu chuẩn duy nhất để đo lường sự vượng suy của can chi năm, ngày, giờ và tài, quan, sát, kiêu, ấn, thực, thương, tỷ kiếp[3]. Quan niệm như vậy sẽ nhận định sai về sự vượng suy của các can trong lá số. Ví dụ:

– Mỗi can đều có quan hệ với các can, chi khác trong lá số và nó chịu ảnh hưởng rất lớn tới các can chi ở gần sát nó. Ví như lá số có lệnh tháng là Hợi nhưng trụ ngày là Bính Ngọ, trụ giờ là Ất Tỵ thì Bính Hỏa rất vượng do Ngọ hợp Tỵ hóa Hoả và còn được Ất Mộc sinh cho Hỏa. Bính không thể suy theo Hợi.

– Về Tiết khí thì chi tháng có ảnh hưởng tới trụ ngày, trụ giờ và trụ năm bởi nó cùng trong thời gian một năm. Nhưng với các đại vận, các lưu niên đã xa chi tháng nhiều năm, có đại vận xa hàng chục năm thì không còn ảnh hưởng gì với chi tháng nữa. Vì vậy dù lá số có chi tháng là Hợi, nếu đến đại vận là Nhâm Thìn thì Nhâm vẫn rất suy bởi Thìn là Mộ của Nhâm và khắc Nhâm, Nhâm đã quá xa lệnh tháng Hợi.

– Can ẩn trong một chi là các khí (bản khí, trung khí…) tạo nên chi đó thì nó phải vượng suy theo chi đó, dù nó gần hay xa lệnh tháng. Hơn nữa có chi ẩn các can tạo thành tương sinh liên tục làm cho một can Trường sinh càng vượng hơn. Ví như lá số có lệnh tháng là Dậu, trụ ngày là Giáp Dần thì Bính trong Dần rất vượng bởi nó là Trường sinh ở Giáp và được 2 Giáp sinh cho.

– Xét về thời tiết thì không phải tất cả mọi ngày giờ trong một tháng đều như nhau. Mùa Đông tháng Tý cũng có ngày, giờ nắng ấm, có khi nóng nực cũng là chuyện bình thường hiện nay. Mùa Đông với vùng này rét lạnh nhưng vùng khác cùng trong một Kinh tuyến lại nóng nực cũng là điều không lạ

[1] Thiệu Vĩ Hoa, Sđd, trang 296

[2] Thiệu Vĩ Hoa, Sđd, trang 297 – 298

[3] Thiệu Vĩ Hoa, Sđd, trang 341

Trích từ cuốn sách “Những bí ẩn của ngày sinh” do NXB Hồng Đức ấn hành, mọi chi tiết xin mời quý đồng môn xem tại đây.

Vũ Phác

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *