Quẻ Chấn

Quẻ Chấn Vi Lôi

Hào sơ là hào dương, hào 2 và hào 3 là hào âm, số của nó là 4, ngũ hành thuộc mộc, ở phương Đông, màu xanh bích.

“Chấn là sấm, là rồng, là huyền hoàng[1], là xanh, là đường lớn, là con trai trưởng, là quyết táo[2], là thương lang trúc[3], là lau sậy. Về ngựa, là loài ngựa hí to, chân trái sau màu trắng, bốn chân chạy nhanh, trán trắng. Về trồng trọt, là phản sinh[4]. Kỳ cứu vi kiện[5], là tươi tốt, tươi sáng.”

Quẻ Chấn có hai hào âm ở trên, một hào dương ở dưới, biểu thị xu thế phát triển hướng thượng, hướng ngoại. Chấn là động, là sấm.

Âm ở trên, có dạng bập bềnh không ngừng, cho nên là rồng.

Thiên huyền địa hoàng, Càn Khôn thủy giao sinh Chấn, cho nên là huyền hoàng.

Một dương ở dưới, hai âm ở trên, cho nên có tượng đường lớn.

Một dương ở dưới chuyên tĩnh mà động, cho nên là chuyên.

Hào dương động ở sơ, sắc sảo tiến thủ, cho nên là quyết táo.

Chấn là màu xanh đậm, cho nên là thương lang trúc. Lau sậy rỗng ở trên, thân dưới đặc, tượng Chấn dương ở dưới, âm ở trên.

Chấn là động, ngựa chạy nhanh hí to. Chấn dương cương, táo động, cho nên kiện. Sơ dương ở dưới, cho nên có tượng vật trong đất như đậu phộng, khoai tây, khoai lang.

Từ đó có thể thấy, tất cả sự vật đều là sự suy diễn tương đồng theo quái tượng, hào tượng, hào vị và quái tính.

Quẻ Chấn còn mô phỏng các sự vật dưới đây:

Tượng ý: Lên cao, tiến bộ, xuất phát, hưng khởi, tân sinh, dũng cảm, cao, công danh lớn, nhân từ, theo đuổi, chăm chỉ suy nghĩ, ảnh hưởng rộng, hăng hái, hiếu động, phẫn nộ, kinh khủng, sợ bóng sợ gió, cẩu thả, manh động, nóng nảy, xung đột, phóng đại, vô lễ, đi lại, ra trận, tiếng động, âm thanh cao v.v.

Nhân vật: Trưởng nam, đại nam (đàn ông trưởng thành), nhân viên phục vụ, người chỉ huy, người đứng đầu, nhân viên hành chính.

Tính cách: Động và thiếu tĩnh, siêng năng, có tài cán, hiếu động, nhân từ, ngay thẳng, nóng tính, dễ giận, hay nóng nảy, phiền muộn, nôn nóng bất an, quật cường, lòng tự trọng cao, sợ bóng sợ gió.

Nhân thể: Chân, gan, thần kinh, gân, sườn trái, vai phải, tóc.

Tật bệnh: Bệnh chân, bệnh can kinh, can hỏa vượng, viêm gan, bệnh tâm thần, bệnh cuồng táo (dễ cáu), chứng đa động (tăng động), suy nhược thần kinh, chứng cuồng loạn, bệnh động kinh, thần kinh quá nhạy cảm, bệnh hoảng sợ, bệnh phụ khoa, triệu chứng đau nhức, triệu chứng nghiêm trọng, ho, chứng bệnh về thanh đới yết hầu.

Thiên tượng: Sấm, dông tố, động đất, núi lửa phun.

Động vật: Rồng, rắn, chim ưng, đại bàng, ngựa chạy nhanh hí to, chim hót hay, ong, bách trùng, hạc, hộc.

Vật tượng: Cây cối, trúc, hoa tươi, rau, vật đa tiết (nhiều đoạn), chồi non, vật màu xanh đậm, trà, pháo, nhạc cụ âm thanh, điện thoại truyền thanh, xe đi lại, tên lửa, máy bay, phi thuyền, đại bác, thương, kiếm, quần, khố, móng, thịt tươi, đồng hồ báo thức.

Nơi chốn, vật kiến trúc: Núi rừng, đất hoang, khu rừng, nhà hướng Đông, cánh đồng trà, chợ rau, nguồn động đất, miệng núi lửa, hội trường diễn tấu, đài phát thanh, bưu cục, cửa hàng nhạc cụ nghe nhìn, phòng ca múa, phòng trà, quán trà âm nhạc, rạp xiếc, cửa hàng hoa, khu phố sầm uất, nơi ồn ào, khu vui chơi, đường lớn, sân bay, bãi phóng tên lửa, trường bắn, quân cảnh, công an, doanh trại, quân đội, bãi đỗ xe, bến xe.

Thời gian có lợi: Năm tháng ngày giờ Giáp Ất Dần Mão Nhâm Quý Hợi Tý. Kỵ năm tháng ngày giờ Canh Tân Thân Dậu, tiếp theo là kỵ năm tháng ngày giờ Bính Đinh Tị.

Phương vị có lợi: Phương Đông, Bắc, Đông Nam. Kỵ phương Tây, Tây Bắc, tiếp theo là kỵ phương Nam.

Màu sắc có lợi: Xanh bích, lục, đen. Kỵ màu trắng, tiếp theo là kỵ màu đỏ.

[1] Xét về quái tượng, quẻ Chấn một dương xuất hiện dưới hai âm, biểu thị dương khí bắt đầu sinh; xét về mùa, quẻ Chấn biểu thị Lập Xuân, lúc này dương khí bắt đầu lên cao và khuếch tán, âm khí bắt đầu thu lại và ẩn xuống, dương khí và âm khí bắt đầu tương giao. Càn là trời, là dương, là đỏ; Khôn là đất, là âm, là đen. Khí âm dương tương giao, do đó màu đỏ và đen nhuộm lẫn nhau, màu sắc sau khi nhuộm chính là huyền hoàng, cho nên Chấn là huyền hoàng.

[2] “Quyết” biểu thị khai thông dòng nước, làm cho nước chảy. “Táo” biểu thị tốc độ nhanh. Khi dòng sông tắc nghẽn được khai thông thì dòng nước sẽ chảy rất nhanh. “Quyết” và “táo” cộng lại cũng biểu thị tượng dòng chảy tốc độ rất nhanh. Trong tượng tự nhiên, Chấn là sấm, sự lan truyền của tiếng sấm cũng giống như nước sông, tốc độ rất nhanh, cho nên là “quyết táo”.

[3] Thương lang trúc chính là trúc mới mọc, cũng chính là trúc mùa xuân, màu sắc của nó lúc này là màu xanh. Khổng Dĩnh Đạt nói trong “Chu Dịch Chính Nghĩa” rằng: “Thương lang trúc, trúc sơ sinh chi thời, sắc thương lang, thủ kỳ xuân sinh chi mỹ dã.” (Thương lang trúc, khi trúc mới mọc, có màu xanh, đó là vẻ đẹp mùa xuân sinh ra vậy.)

[4] Quả của thực vật mà chúng ta ăn thường là sinh trưởng ở trên mặt đất. Còn phản sinh thì sao? Tức là, quả của loại thực vật này không phải sinh trưởng ở trên mặt đất, mà là sinh trưởng ở trong lòng đất, xem có vẻ như là ngược với sự sinh trưởng, cho nên gọi là phản sinh.

[5] “Cứu” biểu thị tận cùng. “Kiện” biểu thị thịnh vượng. Xét về mùa, quẻ Chấn biểu thị mùa xuân. Tục ngữ nói, vật cực thì tất phản. Âm khí của thời gian này đã từ cường thịnh của mùa đông bắt đầu chuyển hướng suy nhược, âm khí bắt đầu thu lại; còn dương khí thì sao? Thì ngược lại, bắt đầu từ suy nhược chuyển hướng cường thịnh, dương khí không ngừng tăng lên. Sau thời gian hưu dưỡng cả mùa đông, mùa xuân cỏ cây sinh trưởng rất thịnh vượng, cho nên “kỳ cứu vi kiện”.

Trân trọng!

Vũ Phác

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now